Chuyến đi để tôi trở thành một chuyên gia, chuyên chụp ảnh và nghiên cứu vùng cực, bắt đầu khi tôi được bốn tuổi, khi gia đình tôi chuyển từ miền Nam Canada tới đảo Bắc Baffin, phía trên đảo Greenland. Chúng tôi sống cùng với người Eskimo. Trong cộng đồng nhỏ gồm 200 người Eskimo, chúng tôi là một trong số ba gia đình ngoại tộc. Và trong cộng đồng này, chúng tôi không có lấy một cái ti-vi; chúng tôi không có máy tính, tất nhiên là cả rađio. Chúng tôi thậm chí không có cả điện thoại. Tất cả thời gian tôi đều ở ngoài với người Eskimo, chơi đùa. Tuyết và băng đá là hộp cát của tôi, và người Eskimo là thầy giáo của tôi. Và đó là nơi tôi trở nên thực sự gắn bó với vùng đất cực này. Và tôi đã biết sẽ có một ngày tôi sẽ làm điều gì đó mà tôi phải làm để nỗ lực chia sẻ tin tức về nó và bảo vệ nó.
Tôi muốn chia sẻ với các bạn, chỉ trong hai phút thôi, vài hình ảnh, một phần tiêu biểu cho công việc của tôi, trên nền nhạc tuyệt vời của Brandi Carlile, "Have You Ever" (Bạn đã bao giờ từng) Tôi không biết tại sao đài National Geographic lại làm vậy, trước giờ họ chưa bao giờ làm như vậy, nhưng họ cho phép tôi cho các bạn xem một vài hình ảnh từ một bộ sưu tập tôi vừa mới hoàn thành nhưng chưa được công bố. National Geographic không công bố. Vì vậy tôi rất phấn khởi vì có thể chia sẻ với các bạn.
Những hình ảnh này là -- các bạn sẽ thấy chúng ở phần đầu của đoạn chiếu -- không chỉ là bốn bức hình -- mà còn là về một con gấu nhỏ sống ở Rừng Gấu Lớn (Great Bear Rainforest). Nó trắng tinh, nhưng không phải là gấu vùng cực. Nó là một con gấu thần thánh, hay chính là gấu Kermode (của người da đỏ). Chỉ còn 200 con gấu như vậy sống sót. Chúng hiếm hơn cả gấu trúc.
Tôi ngồi đó trên dòng sông trong suốt hai tháng mà không thấy con gấu nào cả. Tôi nghĩ, sự nghiệp mình kết thúc rồi. Tôi nói chuyện đó với National Geographic. Tôi đang nghĩ cái quái gì vậy? Tôi có hai tháng ngồi đó và tìm ra những giải pháp khác cho cuộc đời tiếp theo của mình, sau khi là một nhiếp ảnh gia, bởi vì họ sắp sa thải tôi rồi. Bởi vì National Geographic là một tạp chí; lúc nào họ cũng hối thúc chúng tôi, họ sản xuất hình ảnh, chứ không phải những lời thứ lỗi.
Và sau hai tháng ngồi đó -- một ngày nọ, khi đang suy nghĩ vậy mọi việc đã chấm dứt rồi, thì con gấu đực trắng khổng lồ này xuất hiện, ngay cạnh tôi, cách tôi khoảng một mét, nó lội xuống và bắt cá rồi đi vào rừng ăn cá. Và rồi tôi dành nguyên cả ngày sống trong giấc mơ thuở ấu thơ dạo quanh khu rừng cùng với con gấu này. Nó băng qua khu rừng già này ngồi xuống cạnh cái cây 400 năm tuổi này rồi đi ngủ. Tôi thực ra đã thiếp đi cách con gấu khoảng 1m ngay trong rừng, và chụp ảnh nó.
Tôi rất phấn khởi cho các bạn xem những tấm hình đó tiêu biểu cho công việc mà tôi đã làm ở vùng cực. Hãy thưởng thức.
Brandi Carlile: ♫ Bạn có từng dạo một mình trong rừng cây? ♫ ♫ Ở đó mọi thứ cảm thấy như là chính nó ♫ ♫ Bạn là một phần của cuộc sống nơi đó ♫ ♫ Bạn là một phần của điều tuyệt vời ♫ ♫ Nếu bạn đã từng dạo một mình trong rừng cây ♫ ♫ Ooh, ooh, ooh ♫ ♫ Nếu bạn đã từng dạo một mình trong rừng cây ♫ ♫ Bạn có từng nhìn lên bầu trời đầy sao? ♫ ♫ Nằm ngửa và tự hỏi tại sao ♫ ♫ Vì sao lại có nó? ♫ ♫ Tôi tự hỏi, tôi là ai? ♫ ♫ Nếu bạn đã từng nhìn lên bầu trời đầy sao ♫ ♫ Ooh, ooh, ooh, ooh ♫ ♫ Aah, ah, aah ♫ ♫ Ah, oh, oh, ah, ah, oh, oh ♫ ♫ Bạn có từng nhìn lên bầu trời đầy sao? ♫ ♫ Bạn có từng bước đi trong tuyết? ♫ ♫ Cố gắng quay lại nơi bạn xuất phát ♫ ♫ Bạn sẽ dừng lại ♫ ♫ Không biết sẽ đi đâu ♫ ♫ Nếu bạn đã từng bước đi trong tuyết ♫ ♫ Ooh, ooh, ooh, ooh ♫ ♫ Aah, ah, aah, ah, aah ♫ ♫ Ah, ah, oh, ah, ah, oh, ah ♫ ♫ Oh, ah, ah, ah ♫ ♫ Ah, ah, oh, ah, ah, oh, oh ♫ ♫ Nếu bạn đã từng bước đi, bạn sẽ biết ♫
Paul Nicklen: Cảm ơn rất nhiều. Đoạn phim đã hết. Đồng hồ tôi đang đếm. Được rồi, dừng thôi. Cảm ơn rất nhiều. Tôi rất cảm kích.
Lúc nào chúng ta cũng tràn ngập tin tức rằng băng biển đang biến mất đi và nó đang ở mực thấp nhất. Thực tế là các nhà khoa học lúc đầu chỉ nói băng biển sẽ biến mất trong 100 năm tới, rồi họ nói 50 năm. Bây giờ họ lại nói băng ở Bắc Băng Dương, trong khoảng thời gian mùa hè sắp sửa biến mất trong 4 đến 10 năm nữa. Điều đó có nghĩa là gì? Một lúc sau khi đọc thấy điều này, nó bỗng trở thành tin tức. Bạn dán mắt vào điều đó. Và điều tôi đang cố gắng làm với công việc là đối diện với điều này.. Tôi muốn mọi người hiểu và có được khái niệm rằng nếu chúng ta mất hết băng đá, chúng ta đứng bên bờ mất hết toàn bộ hệ sinh thái. Viễn cảnh đặt ra là chúng ta có thể mất các loài gấu cực, chúng có thể tiệt chủng, trong vòng 50 đến 100 năm tới.
Sẽ không có loài đặc trưng nào thu hút hơn, đẹp hơn, lôi cuốn hơn với tôi để giữ tôi tiếp tục công việc. Gấu vùng cực là những tay săn mồi đáng nể. Đây là con gấu mà tôi ngồi cùng một lúc trên bờ biển. Không có băng tuyết xung quanh. Nhưng có một tảng băng nổi trên nước và một con sư tử biển trên đó. Và con gấu này về phía con sư tử biển kia -- một con sư tử biển có lông nặng khoảng 360 kg -- vồ lấy nó, bơi trở lại và ăn thịt nó. Con gấu no bụng, nó quá vui vẻ và quá mập để ăn con sư tử biển này, đấy, khi tôi tiếp cận nó -- cách khoảng 60m -- để có được bức hình này, con gấu chỉ chống cự lại để tiếp tục ăn thịt sư tử biển. Và vì ăn nên nó quá sức no -- có khoảng 90kg thịt trong bụng nó -- và nó ăn bằng một bên miệng, nhai lại bằng bên miệng còn lại.
Bởi vậy, miễn là còn có băng thì những con gấu này sẽ sống, nhưng tảng băng này đang biến mất. Chúng tôi ngày càng tìm thấy nhiều xác gấu chết ở Bắc Cực. Khi tôi là nhà sinh học làm việc với gấu vùng cực 20 năm trước, chúng tôi không bao giờ thấy gấu chết. Và trong 4 hay 5 năm qua, chúng tôi thấy gấu chết nổi lên ở khắp mọi nơi. Chúng tôi thấy chúng ở Biển Beaufort, nổi lên ở mặt biển hở nơi mà băng tuyết đã tan chảy hết. Năm ngoái tôi tìm thấy một cặp gấu ở Nauy. Chúng tôi thấy chúng trên băng. Những con gấu này đã cho thấy những dấu hiệu biểu hiện sức ép lên sự biến mất các tảng băng.
Đây là một gấu mẹ và gấu con hai năm tuổi hành trình trên một con tàu cách bờ một trăm dặm giữa hư không, chúng đang đi trên mảng băng lớn này, mảng băng thật tuyệt cho chúng; chúng được an toàn ở đây. Chúng không phải chết vì bị giảm nhiệt độ. Chúng đang tiến tới đất liền. Nhưng không may, 95% các tảng băng trôi ở Bắc Cực ngay lúc này đây đang lùi xa dần so với điểm đến trên đất liền và không đưa hệ sinh thái vào bất cứ tảng băng nào.
Những con sư tử biển vòng này, Những nhóm các con sứa béo, nhỏ bé nặng gần 70kg này là nguồn sống chính của gấu cực. Và chúng không giống những con hải cẩu vùng cảng như các bạn thấy đây. Những con sư tử biển vòng này chỉ gắn bó toàn bộ cuộc đời chúng với băng biển. Chúng sinh đẻ trong băng, rồi nuôi con trong các hốc nằm dưới lớp băng ở Bắc Cực. Và đây là một bức hình về tảng băng bị hủy hoại Đây là một mảng của khối băng nhiều năm tuổi đã được 12 năm tuổi. Và điều mà các nhà khoa học không dự đoán được là khi tảng băng này tan, những bọc lớn chứa nước đen này đang hình thành và chúng đang hấp thu năng lượng mặt trời và thúc đẩy quá trình tan chảy.
Đây là chúng tôi đang lặn ở Biển Beaufort. Tầm nhìn 180m; chúng tôi đang được buộc dây an toàn; tảng băng này đang di chuyển đi khắp nơi. Tôi mong tôi có thể dành ra nửa tiếng kể các bạn nghe chúng tôi suýt chết trong chuyến lặn này như thế nào. Nhưng điểm quan trọng trong bức hình này là bạn thấy một mảng băng nhiều năm tuổi là núi băng lớn ở phía góc. Trong một mảng băng đơn lẻ như thế, có 300 loài vi sinh vật. Và trong mùa xuân, khi mặt trời trở lại trên băng tuyết, hình thành nên thực vật phù du, phát triển bên dưới băng, và rồi sau đó thành các tấm tảo lớn hơn, và rồi có cả hệ sinh vật phù du được nuôi dưỡng trên thể sống đó. Đó thực sự là điều tảng băng làm được nó đóng vai trò như một khu vườn. Nó là đất trong khu vườn. Nó là khu vườn mọc ngược. Mất đi tảng băng đó giống như việc mất đi miếng đất khu vườn.
Đây là tôi đang ở nơi làm việc của mình. Tôi mong các bạn biết ơn văn phòng làm việc của mình Đây là khi sau một giờ ở dưới băng. Tôi không cảm nhận được môi mình; mặt tôi đóng băng; Tôi không cảm nhận được tay; không cảm nhận được chân. Tôi trở lên và tất cả những gì tôi muốn là thoát khỏi nước. Sau một giờ ở trong những điều kiện như thế này, quá khắc nghiệt nên khi tôi lặn xuống gần như mọi lần lặn tôi đều nôn vào người điều điều chỉnh của tôi, bởi cơ thể tôi không chịu đựng được những cái lạnh đè nén lên đầu tôi. Bởi vậy tôi chỉ vui sướng khi chuyến lặn kết thúc. Tôi đưa máy ảnh cho trợ lý của tôi, Tôi đang nhìn anh ấy và tôi đang chuẩn bị "Woo. Woo. Woo" Nghĩa là "Cầm lấy máy ảnh tôi". Còn anh ấy thì nghĩ tôi đang nói "Chụp anh tôi đí" Vì thế mà chúng tôi có sự cố trao đổi thông tin này. (Cười) Nhưng nó có giá trị.
Tôi đang cho các bạn xem hình những con cá voi trắng, cá voi đầu cong, và kỳ lân biển, gấu vùng cực, và sư tử biển ngày nay, nhưng ở đây bức hình này có ý nghĩa đối với tôi nhiều hơn bất cứ bức hình nào tôi từng chụp. Tôi được thả xuống lỗ băng này, cái lỗ mà các bạn vừa thấy, tôi tìm kiếm bên dưới mặt dưới tảng băng, và tôi hoa mắt; tôi nghĩ tôi bị chóng mặt. Tôi bắt đầu rất lo lắng -- không có dây, không dây an toàn, cả thế giới đang di chuyển quanh tôi -- và tôi nghĩ "Rắc rối rồi" Nhưng điều xảy ra là toàn bộ mặt dưới đầy nhóc hàng triệu các loài giáp xác hai chân và chân kiếm đang bơi quanh và kiếm ăn trên mặt dưới tảng băng, sinh sản và sinh sống. Đây là nền tảng của toàn chuỗi thức ăn của Bắc Cực, ngay tại đây. Và nếu ở đây, ở tảng băng này có năng suất thấp, thì năng suất ở loài chân kiếm giảm.
Đây là một con cá voi đầu cong. Cứ cho là khoa học cho rằng ngay hiện tại nó là loài động vật sống lâu nhất thế giới. Con cá voi này rất có thể đã hơn 250 năm tuổi rồi. Con cá voi này có thể được sinh ra trong khoảng thời kì bắt đầu cuộc Cách mạng Công nghiệp. Nó có thể đã sống sót qua 150 năm nghề đánh bắt cá voi. Và giờ đây mối đe dọa lớn nhất của nó là sự biến mất của băng phương Bắc bởi vì những loài chúng ta đang đưa về phía Nam.
Kỳ lân biển, những con kỳ lân biển khổng lồ này có ngà dài 2,5m không thường có mặt ở đây; chúng có thể ở vùng nước mở. Nhưng chúng buộc phải đến những lỗ băng nhỏ xíu này để có thể thở, có thể thở được, bởi vì bên dưới tảng băng đó là các bầy cá tuyết. Mà cá tuyết có ở đó là bởi vì chúng ăn những loài chân kiếm và giáp xác.
Phần yêu thích của tôi đây. Vào thời điểm cuối cuộc đời tôi, tôi sẽ nhớ tới một chuyện hơn là những thứ khác. Thậm chí thời điểm đó tinh thần chịu đựng mạnh mẽ đến đâu, tôi không nghĩ là mình sẽ có một trải nghiệm khác như điều tôi đã làm với những con sư tử biển này. Loài sư tử biển, từ thời của Shackleton (nhà thám hiển 1874-1922), đã có một thiện cảm xấu. Miệng chúng có kiểu cười ghê tởm. Chúng có đôi mắt đen trong ghê sợ thế kia và những chấm trên cơ thể. Chúng rõ ràng trông như thuộc thời tiền sử và chút đáng sợ. Và thảm thương là năm 2004, một nhà khoa học đã bị một con sư tử biển lôi xuống, bị chết đuối và bị ăn thịt. Và mọi người dường như là "Chúng ta biết là chúng nguy hiểm mà. Chúng ta biết chúng như thế" Vì vậy người ta thích tạo thành kiến. Và đó là khi tôi có một ý tưởng là: Tôi muốn đến Nam Cực, lội vào nước với rất nhiều sư tử biển mà tôi có thể và cho chúng một cơ hội công bằng -- tìm ra rằng liệu chúng là những con vật nguy hiểm, hay chúng bị hiểu sai. Vì thế đây chính là câu chuyện đó Oh, chúng còn ăn cả chim cánh cụt nữa.
Là một loài động vật, loài người, chúng ta thích nói chim cánh cụt thật dễ thương, vì vậy, sư tử biển ăn thịt chúng, nên sư tử biển là xấu xa và không tốt. Không phải như vậy. Chim cánh cụt không biết rằng nó dễ thương. Còn sư tử biển không biết nó là một loại quái vật to lớn. Đây chỉ là một chuỗi thức ăn đang diễn ra. Chúng cũng to lớn. Chúng không phải là những con hải cẩu bến cảng này. Chúng dài 3,5m, nặng 450 kg. Chúng cũng công kích một cách hiếu kì. Bạn có 12 du khách chen chúc trong một cái thuyền Zodiac, trôi nổi trên mặt nước đầy băng này, và một con sư tử biển tiến đến và cắn vào cái phao. Thuyền bắt đầu chìm, họ đua nhau quay trở lại thuyền và trở về nhà và kể câu chuyện họ bị tấn công. Tất cả những điều những con sư tử biển đang làm -- là chỉ cắn một cái bong bóng. Nó chỉ nhìn thấy cái phao lớn này giữa biển -- nó không có tay -- nó sắp sử cắn một chút thì thuyền nổ, người ta bỏ đi.
Vì vậy năm ngày đi qua biển Drake Passage -- không dễ thương vậy. Sau năm ngày đi qua biển Drake Passage, chúng tôi cuối cùng đến được Nam Cực. Tôi cùng với trợ lý người Thụy Điển của tôi và một hướng dẫn viên. Tên anh ấy là Goran Ehlme đến từ Thụy Điển -- Goran. Anh ấy có nhiều kinh nghiệm với sư tử biển. Tôi thì chưa từng thấy chúng. Thế nên chúng tôi đi quanh cái vũng trong con thuyền Zodiac nhỏ của chúng tôi, và có một con sư tử biển quái vật này đây. Thậm chí trong giọng nói, anh ấy nói "Đó là một con sư tử biển lớn đầy máu, kìa" (Cười) Con sư tử biển này đang ăn đầu chim cánh cụt, và quật nó ra sau, ra trước. Và những gì nó đang cố gắng làm là rút xương con chim cánh cụt, để nó có thể ăn thịt không xương, và rồi bỏ đi và bắt một con khác.
Vì vậy con sư tử biển này bắt một con chim cánh cụt khác, tiến tới phía dưới cái thuyền, thuyền Zodiac, bắt đầu húc vào vỏ thuyền. Và chúng tôi đang cố gắng để không rơi xuống nước. Và chúng tôi ngồi xuống, đó chính là lúc Goran nói với tôi, "Đây là một con sư tử biển tốt. Đến lúc anh xuống nước rồi đó" (Cười) Tôi nhìn Goran, tôi nói với anh ấy "Quên đi". Nhưng tôi nghĩ mình có thể đã dùng từ khác bắt đầu bằng chữ Q. Nhưng anh ấy đã đúng. Anh ấy la tôi, va nói "Đây là lý do vì sao chúng ta ở đây. Còn anh thì định đưa chuyện ngớ ngẩn này cho National Geographic. Bây giờ anh sắp làm thế rồi đó. Anh không thể nói cáo lỗi được"
Thế nên miệng tôi khô khốc -- có thể không tệ như bây giờ -- nhưng miệng tôi thật khô khốc đến vậy. Còn chân tôi thì run. Tôi không cảm nhận được chân mình. Tôi mang chân vịt vào. Tôi chỉ có thể hé môi. Tôi đặt ống thở vào miệng, và tôi lăn qua bên mé thuyền rơi xuống nước. Và đây là điều đầu tiên cô nàng làm. Cô nàng lao tới tôi, nhấn chìm máy ghi hình của tôi -- răng cô nàng lồi lõm như vầy -- nhưng Goran, trước khi tôi nhảy xuống nước, đã cho tôi một lời khuyên đáng ngạc nhiên. Anh ấy nói "Nếu anh sợ, hãy nhắm mắt lại, rồi thì cô nàng sẽ bỏ đi"
Đó là tất cả những gì toi phải làm ngay thời điểm đó. Nhưng tôi chỉ mới bắt đầu chụp những bức hình này. Cô nàng tỏ ra đe dọa vậy trong vài phút, rồi điều kinh ngạc nhất xảy ra -- cô nàng thư giãn hoàn toàn. Nó bỏ đi, bắt một con chim cánh cụt. Cô nàng dừng lại cách tôi khoảng 3m, và ở đó với con chim cánh cụt này, con chim cánh cụt vẫy vùng, cô nàng để nó đi. Con chim cánh cụt bơi về phía tôi, bỏ đi. Cô nàng bắt một con khác. Làm lần này đến lần khác. Và tôi có ý nghĩ là cô nàng đang cố bắt cho tôi một con chim cánh cụt. Không vậy thì tại sao cô nàng thả những con chim cánh cụt này ở chỗ tôi? Và sau khi cô nàng làm như vậy 4 hay 5 lần, cô nàng bơi cạnh tôi với vẻ thất vọng trên mặt. Các bạn không muốn nhân cách hóa quá vậy, nhưng tôi thề là cô nàng nhìn tôi như thể "Cái loài ăn thịt vô dụng này sắp chết đói trong vùng biển của tôi rồi".
Vì vậy khi nhận ra tôi không thể bắt những con chim cánh cụt đang bơi, cô nàng bắt những con chim cánh cụt khác và chầm chậm đem lại chỗ tôi, đớp lấy như vậy, và rồi cô nàng để chúng đi. Không có tác dụng. Tôi đang cười rất dữ và rất cảm động mặt tôi đầy nước, bởi vì tôi đang khóc dưới nước, chỉ vì điều này quá kinh ngạc. và vì vậy mà không có tác dụng. Vậy nên cô nàng bắt một con chim cánh cụt khác và thử kiểu trình diễn hấp dẫn như điệu ba-lê lướt xuống tảng băng như thế này. Và cô nàng chọn sẽ đem chúng tới và cho tôi. Điều này tiếp diễn trong bốn ngày. Điều này không diễn ra một vài lần. Và rồi cô nàng nhận thấy tôi không thể bắt những con còn sống, nên cô nàng bắt cho tôi những con đã chết. (Cười) Giờ thì tôi có 4 hay 5 năm con chim cánh cụt nổi trên đầu mình, còn tôi chỉ việc ở đó ghi hình. Cô nàng thường dừng lại và có vẻ buồn chán như vậy trên mặt kiểu "Bạn có thực vậy không đó?" Bởi vì cô nàng không thể tin là tôi không thể ăn con chim cánh cụt này. Bởi vì trong thế giới của cô nàng, bạn chỉ sinh sản hoặc ăn -- mà tôi thì đang không sinh sản.
Đó vẫn chưa đủ; cô nàng bắt đầu quẳng những con chim cánh cụt lên đầu tôi. Cô nàng đang cố ép tôi ăn. Thúc đẩy xung quanh tôi. Cô nàng đang cố ép máy ghi hình tôi ăn, là cái giấc mơ của mọi nhiếp ảnh gia. Cô nàng chán nản, thổi bong bóng vào mặt tôi. Cô nàng sẽ, tôi nghĩ, cho tôi biết là tôi sắp chết đói rồi. Nhưng cô nàng vẫn chưa dừng lại. Cô nàng sẽ không ngừng cố gắng cho tôi ăn chim cánh cụt.
Và trong những ngày cuối cùng với cô nàng này tôi nghĩ tôi đã đẩy nó đi quá xa, tôi lo lắng, bởi cô nàng đến với tôi, lộn ngửa, và kêu như tiếng búa khoan phát ra từ cổ họng, gokgokgokgok như vậy. Và tôi nghĩ, cô nàng sắp cắn rồi. Cô nàng chuẩn bị cho tôi biết cô nàng quá chán với tôi. Điều đã xảy ra là một con sư tử biển khác lặng lẽ bơi phía sau tôi, còn cô nàng thì làm vậy để cảnh báo. Cô nàng đuổi con sư tử biển to lớn đó đi, bơi đi và bắt chim cánh cụt và đem về cho tôi.
Đó không phải là con sư tử biển duy nhất tôi ở cùng dưới nước. Tôi ở dưới nước với 30 con sư tử biển khác, và tôi chưa hề gặp một cuộc đụng độ đáng sợ. Chúng là những con vật đặc biệt nhất tôi từng làm việc chung, và cũng giống với gấu cực. Và chỉ giống với gấu cực là những con vật này sống dựa trên một môi trường băng giá. Tôi quá xúc động rồi. Xin lỗi.
Đó là một câu chuyện ghi sâu vào tim tôi, và tôi tự hào chia sẻ với các bạn. Tôi rất thiết tha với nó. Bất cứ ai muốn cùng tôi đến Nam Cực hay Bắc Cực, tôi sẽ dẫn bạn đi, hãy cùng đi nào. Chúng ta kết thúc câu chuyện tại đây. Xin cảm ơn rất nhiều.
You can share this video by copying this HTML to your clipboard and pasting into your blog or web page. This video will play with subtitles.
You either have JavaScript turned off or have an old version of the Adobe Flash Player. To view this rating widget you
need to get the latest Flash player.
If your browser allows only "trusted sites" to execute Javascript, you should add the "googleapis.com" domain to your whitelist to allow our Flash detection to work properly.
Got an idea, question, or debate inspired by this talk? Start a TED Conversation.
Lặn dưới băng Nam Cực để tiếp cận loài sư tử biển nhiều lông, nhiếp ảnh gia Paul Nicklen đã có một người bạn mới lạ thường. Hãy cùng chia sẻ câu chuyện vui nhộn, thiết tha về vùng cực thần kì, được lột tả qua những hình ảnh hết sức thú vị về các loài động vật sống bên trên và dưới lớp băng.
Paul Nicklen photographs the creatures of the Arctic and Antarctic, generating global awareness about wildlife in these isolated and endangered environments. Full bio »
Translated into Vietnamese by Tu Tran
Reviewed by Alice Tran
Comments? Please email the translators above.
16:17 Posted: Apr 2007
Views 563,885 | Comments 124
14:53 Posted: Aug 2008
Views 619,810 | Comments 62
25:07 Posted: Jul 2008
Views 1,226,500 | Comments 182
Just follow the guidelines outlined under our Creative Commons license.
This comment will be attributed to . Not ? Sign Out.