Tôi cứ tưởng sẽ có một bục đứng ở đây, nên tôi hơi sợ. (Cười) Chris đề nghị tôi kể lại câu chuyện về quá trình chúng tôi tìm ra cấu trúc phân tử ADN Và vì tôi tuân lệnh ông ấy, tôi sẽ kể. Nhưng thực tình nó làm tôi hơi chán. (Cười) Bạn biết đấy, tôi đã viết một cuốn sách rồi. Do đó tôi sẽ nói vài điều... (Cười) ...Tôi sẽ nói một chút về con đường dẫn đến sự khám phá ra ADN, và tại sao tôi và Francis tìm ra nó. Sau đó, tôi sẽ dành ít nhất 5 phút cuối để nói về những dự án tôi đang thực hiện.
Sau lưng tôi là hình tôi năm 17 tuổi. Tôi đang là sinh viên năm 3 trường Đại học Chicago và tôi học năm 3 khi mới 17 tuổi là vì trường Đại học Chicago cho các bạn nhập học sau 2 năm học trung học. Vì vậy... thật thích khi thoát khỏi trường trung học. Vì khi đó tôi rất nhỏ con và không giỏi các môn thể thao, hay bất cứ thứ gì tương tự.
Nhưng tôi muốn nói về tiểu sử của mình. Như các bạn biết đó, ba tôi được nuôi nấng trong gia đình theo Tân giáo và đảng Cộng Hòa. Nhưng sau một năm học đại học, ông trở thành người vô thần và theo đảng Dân Chủ. (Cười) Còn mẹ tôi là người theo đạo Thiên Chúa xứ Ai-len nhưng bà cũng chẳng sùng đạo lắm. Đến năm 11 tuổi thì tôi không còn đi Lễ ngày Chủ nhật nữa, mà đi ngắm chim cùng với ba tôi. Nhờ vậy mà tôi sớm được nghe kể về Charles Darwin. Tôi nghĩ ông ta là vị anh hùng vĩ đại. Và như các bạn biết đó, tất cả sự sống hiện diện trên trái đất đều trải qua quá trình tiến hóa.
Tại trường Đại học Chicago, tôi theo học ngành Động vật học. Mục tiêu của tôi là nếu tôi đủ khả năng, có thể tôi sẽ lấy bằng Tiến sĩ ngành Điểu học ở Cornell. Rồi trong tờ báo Chicago có đăng bài giới thiệu về một cuốn sách tựa đề là "Cuộc sống là gì?" ("What is Life?") của nhà vật lý vĩ đại Schrodinger. Tất nhiên, đó cũng chính là câu hỏi tôi muốn tìm hiểu. Như các bạn biết, Darwin giải thích sự sống sau khi nó đã hình thành, nhưng bản chất của sự sống là gì?
Schrodinger cho rằng, về bản chất, đó là những thông tin có mặt trong nhiễm sắc thể chúng ta và thông tin phải được lưu trữ ở dạng phân tử. Trước đó tôi chưa từng nghĩ đến các phân tử. Bạn biết đấy, các nhiễm sắc thế thực chất là các phân tử, và bằng cách nào đó các thông tin này có thể được sắp xếp theo dạng số nào đó Và một câu hỏi lớn là những thông tin đó được sao chép bằng cách nào?
Đó là điều cuốn sách này đặt ra. Và từ lúc đó trở đi tôi đã muốn trở một nhà di truyền học... tôi muốn hiểu rõ về gen và qua đó hiểu rõ sự sống. Hồi đấy tôi có một thần tượng, một vị anh hùng để hướng tới. Không phải một cầu thủ bóng chày, mà là Linus Pauling. Vì thế tôi nộp đơn xin vào trường Caltech và... họ loại tôi. (Cười) Nên tôi tới trường Indiana, ở đó cũng có ngành di truyền học tốt như ở Caltech, bên cạnh đó, họ có một đội bóng rổ rất giỏi. Cuộc sống tôi ở Indiana thực sự khá hạnh phúc. Và ở Indiana tôi đã có "linh cảm" là gen di truyền rất có thể chính là các phân tử ADN. Thế nên khi nhận được bằng Tiến sĩ, tôi nên đi nghiên cứu ADN.
Vì vậy đầu tiên tôi tới Copenhagen vì tôi nghĩ rằng tôi có thể trở thành một chuyên gia hóa sinh. Nhưng tôi lại nhận ra hóa sinh rất chán. Nó không dẫn tới việc khám phá gen di truyền là gì. Nó chỉ là ngành khoa học hạt nhân. Ồ, quyển sách đó đây, một quyển sách nhỏ. Bạn có thể đọc xong trong 2 giờ. nhưng để tôi kể tiếp, tôi đến dự một hội nghị khoa học ở Ý. Có một diễn giả không có trong chương trình, ông ấy nói về ADN. Đó là Maurice Wilkins. Ông ấy được đào tạo làm một nhà vật lý, nhưng sau chiến tranh ông lại muốn trở thành nhà lý sinh học và ông ấy chọn ADN vì ADN đã được Viện Rockefeller xác định có thể là những phân tử di truyền trên nhiễm sắc thể. Đa số mọi người đã tin rằng protein là phân tử di truyền. Nhưng Wilkins nghĩ rằng ADN là lựa chọn đúng đắn nhất, và ông cho xem hình chụp X-quang này. Một kiểu tinh thể, tức là ADN có cấu trúc xác định, cho dù bản thân nó có thể là những phân tử khác nhau mang những bộ thông tin chỉ thị khác nhau. Vậy là đã có vài thông tin chung chung về phân tử ADN. Nên tôi muốn làm việc với ông ấy, nhưng ông không thích một người từng là nhà quan sát chim, nên tôi chuyển mục tiêu đến Cambridge, nước Anh.
Tôi tới Cambridge vì và lúc đó, Cambridge thực sự là nơi tốt nhất thế giới cho ngành tinh thể học chụp bằng tia X. Ngày nay ngành nghiên cứu tinh thể học bằng tia X là một môn trong ngành Hóa học. Ý tôi là, những ngày trước, đó là lĩnh vực riêng của các nhà vật lý Nơi tốt nhất cho nghiên cứu tinh thể bằng tia X là phòng thí nghiệm Cavendish ở Cambridge. Và ở đó tôi gặp Francis Crick. Trước đó tôi chẳng biết anh ấy là ai. Lúc đó anh ấy 35 tuổi, tôi 23 tuổi. Chỉ trong vòng một ngày, chúng tôi đã quyết định là chúng tôi có thể kiếm ra một con đường tắt để tìm ra cấu trúc ADN. Các bạn biết đó, không nghiên cứu theo kiểu chính thống, mà chúng tôi sẽ xây dựng một mô hình. Một mô hình điện tử, sử dụng các thông số chiều dài, tất tật những thông tin có được từ các bức hình chụp X-quang. Chỉ để trả lời một câu hỏi là -- phân tử đó gấp cuộn như thế nào?
Và lý do của việc này là người ở giữa trong tấm hình này, đó là Linus Pauling Khoảng 6 tháng trước đó, ông ấy đưa ra cấu trúc xoắn alpha của protein Và làm được việc này, ông ấy đã đánh bại Sir Lawrence Bragg (bên trái), Lawrence Bragg là một giáo sư ở Cavendish. Bức hình này được chụp vài năm sau đó khi Bragg đã có lí do để vui vẻ hơn. Ông ấy chắc chắn không vui vẻ gì vào lúc tôi tới đó, ông ấy xấu hổ vì Pauling có được cấu trúc xoắn alpha, và những người ở Cambridge đều thất bại vì họ không phải là nhà hóa học. Cả tôi và Crick chắc chắn cũng không là nhà hóa học vì thế chúng tôi cố gắng xây dựng một mô hình. Francis quen Wilkins Wilkins nghĩ rằng đó là cấu trúc xoắn ốc. Ông cho rằng phác đồ X-quang tương ứng với dạng xoắn.
Nên chúng tôi dựng một mô hình gồm 3 chuỗi ADN. Các nhà khoa học từ Luân Đôn kéo đến. Wilkins và người cộng sự, Rosalind Franklin đến và cười nhạo mô hình của chúng tôi. Họ bảo là nó thật tầm thường, mà đúng là nó tầm thường thật. Nên họ bảo chúng tôi đừng dựng thêm mô hình nào nữa, chúng tôi thật kém cỏi. (Cười) Nên chúng tôi không dựng thêm mô hình nào nữa, Francis tiếp tục công việc nghiên cứu protein. Còn tôi về cơ bản là không làm gì, ngoại trừ việc đọc sách Các bạn biết không, đọc sách thực sự là việc tốt. Bạn nắm được các cơ sở lý luận. Chúng tôi vẫn nói với các nhà khoa học Luân Đôn rằng Linus Pauling sắp chuyển sang nghiên cứu ADN. Nếu ADN quan trọng đến vậy, Linus hẳn sẽ hiểu rõ nó. Ông ấy sẽ dựng được mô hình, và rồi chúng tôi sẽ thua cuộc.
Thực ra ông ấy đã viết cho các nhà khoa học Luân Đôn thế này: Ông ấy có thể xem các bức hình X-quang của họ không? Họ trả lời rằng "Không". Như vậy ông ấy chưa có nó. Nhưng cũng có vài hinh X-quang trong các bài báo khoa học. Thực ra Linus đã không xem xét chúng kĩ càng. Khoảng 15 tháng sau khi tôi tới Cambridge, một tin đồn lan ra từ con trai của Linus Pauling, lúc đó cũng ở Cambridge, cậu ta nói rằng ba cậu ta đang nghiên cứu ADN. Vậy nên một ngày Peter đến và nói rằng cậu ta là Peter Pauling, cậu ta đưa tôi bản sao bản thảo viết tay của ba cậu ta. Ôi, tôi lo ghê luôn, tôi nghĩ: "Mình tiêu rồi". Tôi chẳng còn gì để làm cả, không có chuyên môn về thứ gì hết. (Cười)
Trong bài báo đó, Linus Pauling đưa ra giả thiết cho một cấu trúc gồm 3 chuỗi ADN. Tôi đọc nó, và nó thật là ... thật là tào lao. (Cười) Các bạn biết đó, điều này là thật bất ngờ... (Cười) ... 3 sợi ADN được gắn với nhau bằng liên kết hydro giữa các nhóm phosphate. Nhưng pH cao nhất trong tế bào là khoảng pH7, nên những liên kết hydro đó không thể tồn tại được. Chúng tôi lao vào khoa Hóa và hỏi: "Pauling có thể đúng không?" và Alex Hust nói "Không". Chúng tôi mừng quá chừng. (Cười)
Thế là chúng tôi vẫn tiếp tục cuộc chơi, nhưng chúng tôi e rằng ai đó ở Caltech sẽ nói với Linus là ông ấy sai. Rồi Bragg bảo: "Dựng mô hình thôi" Phải nói thêm là, một tháng sau khi chúng tôi có bản thảo của Pauling... tôi đem nó đến Luân Đôn cho mọi người xem. Tôi nói: Linus sai rồi và chúng tôi vẫn đang tiếp tục cuộc chơi và họ nên bắt đầu dựng mô hình ngay lập tức . Nhưng Wilkins nói không, Rosalind Franklin sẽ chuyển đi trong vòng 2 tháng, sau khi bà ấy đi, ông sẽ bắt đầu dựng mô hình. Thế là tôi đem tin đó về Cambridge, và Bragg vẫn nói: "Xây dựng mô hình thôi" Dĩ nhiên tôi muốn dựng mô hình. Đây là Rosalind. Thực ra, theo nghĩa nào đó, có thể xem Rosalind là một nhà hóa học, nhưng thực sự bà đã không được qua đào tạo... bà không hiểu gì về hóa hữu cơ hay hóa lượng tử. Bà là chuyên gia chụp hình tinh thể.
Tôi nghĩ một phần lý do bà không muốn dựng mô hình là vì bà không phải là nhà hóa học, trong khi Pauling lại là một nhà hóa học. Vì vậy nên tôi và Crick bắt đầu dựng các mô hình tôi có học một chút về hóa học, nhưng chưa đủ Như thế... chúng tôi có câu trả lời vào ngày 28/2/1953 Và với tôi, đó là bởi vì có một quy tắc, một quy tắc rất hay rằng: Đừng bao giờ cố là người giỏi nhất trong phòng. Và đúng là như thế, Chúng tôi không phải là những nhà hóa học giỏi nhất trong phòng. Tôi bước vào và và đưa cho họ xem mô hình một cặp chuỗi tôi dựng được, và Jerry Donohue ... một nhà hóa học ... nói rằng cái đó sai. "Ngài đã đặt các nguyên tử hydro sai chỗ rồi" Tôi chỉ đặt chúng như trong các cuốn sách. Vậy mà ông ấy vẫn nói rằng tôi sai.
Sang ngày hôm sau, tôi chợt nghĩ "Chà, ông ta có thể đúng đó chứ", thế là tôi thay đổi các vị trí, rồi chúng tôi phát hiện ra sự bắt cặp của các gốc bazơ nitơ, ngay tức thì Francis nói rằng các chuỗi phân tử chạy theo các hướng xác định. Và chúng tôi biết rằng mình đã đúng. Thật tuyệt vời, và tất cả những điều đó xảy trong khoảng hai giờ. Từ không đến có, chỉ trong 2 tiếng đồng hồ. Chúng tôi hiểu rằng điều đó rất quan trọng, bởi bạn biết đó, chỉ cần đặt A cạnh T và G cạnh C, bạn có được cơ chế sao chép ADN. Chúng tôi đã nhìn ra cách thông tin di truyền được mang đi như thế nào. Đó là thứ tự của bốn gốc bazơ nitơ. Có thể hiểu đây là một kiểu thông tin dạng số Bạn sao chép thông tin bằng cách sao chép từng chuỗi riêng biệt. Nếu cơ chế sao chép không diễn ra theo cách này thì bạn vẫn có thể tin nó bởi không thể có một cách sắp xếp nào khác tốt hơn. (Cười)
Nhưng đó không phải là cách nghĩ của phần lớn các nhà khoa học. Thực ra phần lớn họ không thông suốt như thế. Họ nói rằng họ sẽ không suy nghĩ gì cả cho đến khi họ chắc chắn rằng đúng Nhưng mà, như các bạn biết đó, chúng tôi nghĩ mình đúng 95-99% Hãy nghĩ xem. Trong suốt 5 năm tiếp theo, nghiên cứu của chúng tôi đăng trên báo Nature chỉ được nhắc đến đúng 5 lần -- chẳng đáng gì cả. Chúng tôi đã bị bỏ rơi, và cố gắng thực hiện phần cuối cùng của ba câu hỏi này: Làm thế nào... Thông tin di truyền này là để làm gì? Khá rõ ràng là nó cung cấp thông tin cho một phân tử ARN, và rồi làm thể nào để tạo nên protein từ ARN? Trong khoảng ba năm, chúng tôi chỉ... tôi cố gắng giải mã cấu trúc ARN. Không mang lại gì cả. Không chụp được bức hình X-quang tốt nào cả. Một cô gái từ chối lời cầu hôn của tôi, tôi đã rất đau khổ Các bạn biết không, đó quả là khoảng thời gian tồi tệ. (Cười)
Có một bức hình của tôi và Francis trước khi tôi gặp cô gái đó, trông tôi lúc đó vẫn hạnh phúc (Cười) Trong khi chúng tôi chưa biết nên đi về đâu thì chúng tôi làm một việc: chúng tôi thành lập một câu lạc bộ tên là Câu lạc bộ Cà vạt ARN (RNA Tie Club). George Gamow cũng là một nhà vật lý vĩ đại, ông ấy thiết kế hình ARN trên cái cà vạt. Ông ấy là một thành viên câu lạc bộ. Câu hỏi đặt ra là: Làm cách nào để dùng một bộ mã gồm 4 chữ cái để mã hóa được bộ mã 20 chữ cái của các protein? Feynman là một thành viên, và Teller là bạn của Gamow. Đó là lần duy nhất ... Ồ không, chúng tôi chỉ được chụp hình hai lần. trong cả hai lần đó, có một người trong số chúng tôi quên đeo cái cà vạt có hình ARN. Francis ngồi ở hàng trên, bên phải, ngay kế tôi là Alex Rich, chuyên gia chụp hình tinh thể đa chiều. Bức hình này chụp ở Cambridge tháng 9/1955 Tôi đang cười, chắc là cười gượng thôi bởi vì cô gái tôi yêu, nàng đã ra đi rồi. (Cười)
Và tôi cứ buồn bã như thế mãi cho đến năm 1960 vì khi đó, cơ bản là chúng tôi đã tìm ra có ba dạng ARN Và về cơ bản, chúng tôi đã biết ADN cung cấp thông tin cho ARN. ARN cung cấp thông tin cho protein. Điều này là tiền đề để Marshall Nirenberg dùng ARN tổng hợp... trong một hệ thống sản xuất protein. Ông ấy tạo ra một chuỗi Phenylalanine (polyphenylalanine) Đó là lần đầu tiên người ta giải được một đoạn mã di truyền, và đến năm 1966 thì ai cũng biết. Đấy, đây là chuyện Chris yêu cầu tôi kể -- rồi sau đó thì sao? Vào thời gian đó ... để tôi quay trở lại. Khi tìm ra cấu trúc ADN, tôi công bố lần đầu ở Viện nghiên cứu Cold Spring Harbor Nhà vật lý Leo Szilard đã nhìn tôi và hỏi " Ông sẽ đăng kí sáng chế phát hiện này chứ?" Ông ấy biết rõ luật sáng chế, và cũng biết là chúng tôi không thể lấy bằng sáng chế đó được, vì chúng tôi không thể. Mà nó cũng chẳng có ích gì. (Cười)
Vậy là ADN đã không được coi là một phân tử có ích và các luật sư đã không can thiệp cho mãi đến năm 1973, 20 năm sau, khi Boyer và Cohen ở San Francisco và Stanford phát minh ra phương pháp tái tổ hợp ADN, Trường Stanford đã đăng kí bằng sáng chế và kiếm được nhiều tiền từ phương pháp đó. Ít nhất họ cũng có bằng sáng chế thứ gì đó thứ gì đó hữu ích. Họ học cách đọc các chữ cái của bộ mã di truyền. Và rồi, BÙM, chúng ta có một ngành công nghiệp công nghệ sinh học. Nhưng chúng ta vẫn còn xa lắm mới trả lời được câu hỏi từ thuở thơ ấu của tôi, đó là câu hỏi: Làm thế nào tự nhiên tự vận hành?
Thế là tôi tiếp tục. Tôi đã hết thời rồi, nhưng, đây là Michael Wigler, một nhà toán học rất rất rất thông minh chuyển sang ngành vật lý. Ông ấy đã phát triển một công nghệ về cơ bản cho phép chúng ta quan sát mẫu ADN và cuối cùng là hàng triệu điểm trên đó. Đây là một con chíp, cái này là loại thường, Còn con chíp kia được làm bằng công nghệ quang khắc (photolithography) của một công ty ở Madison tên là NimbleGen, công nghệ của họ tiên tiến hơn hẳn công ty Affymetrix Dùng công nghệ này, bạn có thể so sánh ADN của tế bào thường và tế bào ung thư. Hình phía trên thể hiện ADN từ các tế bào ung thư. Nó cho thấy có những đoạn ADN được chèn thêm vào hoặc bị xóa đi. Vì thế phân tử ADN gần như bị phá nát, trong khi đó, để bạn có khả năng sống còn, thì ADN không bị hư hỏng nhiều như vậy. Chúng tôi nghĩ điều này rốt cuộc sẽ dẫn tới khái niệm "sinh tiết ADN" Trước khi các bạn được điều trị bệnh ung thư, bạn nên xem xét công nghệ này để có thể cảm nhận được bộ mặt của "kẻ thù ung thư". Đó chỉ là, chỉ là một cái nhìn cục bộ, nhưng... tôi nghĩ nó rất rất có ích.
Chúng tôi bắt đầu với bệnh ung thư vú bởi vì có nhiều tiền dành cho nghiên cứu ung thư vú, không phải tiền Chính phủ. Bây giờ thì tôi có một mối quan tâm là: tôi muốn làm với bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Các bạn biết rằng nếu bệnh không nguy hiểm, bạn sẽ không được điều trị Nhưng với Wigler, bên cạnh việc quan sát tế bào ung thư, ông còn quan sát các tế bào thường và thực hiện khá nhiều quan sát đáng kinh ngạc. Trong số đó là phát hiện trong bộ gen của mỗi chúng ta có khoảng 10 vị trí mà ở đó mất đi một gen hoặc nhận thêm một gen khác. Có vẻ như chẳng ai trong chúng ta hoàn hảo cả. Và câu hỏi đặt ra là, nếu là chúng ta ở đây giờ này tức là những gen mất đi và nhận thêm có thể không quá nghiêm trọng Nhưng nếu sự loại thải hay khuếch đại xảy ra ở những gen quan trọng, thì chúng ta có thể bị bệnh.
Bệnh đầu tiên ông ấy nghiên cứu là bệnh tự kỉ. Lý do chọn bệnh bệnh tự kỉ là vì chúng tôi có tiền để thực hiện Để theo dõi một người mất khoảng 3000 đôla. Ba mẹ của một em bé mắc bệnh tự kỷ thần đồng (hội chứng Asperger), kiểu bệnh tự kỉ có trí thông minh cao, đã gửi ADN của đứa bé một công ty thông thường; nhưng họ không làm gì được. Di truyền học thông thường không thể làm được, nhưng chỉ cần xem lướt qua mẫu ADN, chúng tôi đã bắt đầu tìm ra các gen liên quan đến bệnh tự kỉ. Như các bạn thấy ở đây, có rất nhiều gen đó. Có rất nhiều trẻ bị bệnh tự kỉ bởi vì chúng bị thiếu một mảnh ADN lớn. Ý tôi là, ở mức độ phân tử thì đó là một mảnh lớn. Chúng tôi thấy ở một trẻ bị bệnh tự kỉ, có một nhiễm sắc thể bị mất khoảng 5 triệu gốc bazơ. Chúng tôi chưa theo dõi ba mẹ đứa trẻ, nhưng có thể ba mẹ nó không bị mất như vậy, vì nếu có thì chắc họ đã không sinh con được. Nghiên cứu bệnh tự kỉ của chúng tôi chỉ vừa mới bắt đầu. Chúng tôi có được 3 triệu đôla. Tôi nghĩ sẽ tốn ít nhất 10 đến 20 triệu đôla mới tìm ra phương cách giúp các gia đình có con bị bệnh tự kỉ, hoặc các cặp vợ chồng có nguy cơ có con bị bệnh tự kỉ. và liệu chúng tôi có thể phát hiện được sự khác biệt? Vì thế có lẽ nên dùng công nghệ tương tự để nghiên cứu hết những thứ đó. Đó là một cách tuyệt vời tìm kiếm gen.
Như vậy, tôi sẽ kết thúc bằng việc nói rằng chúng tôi đã quan sát 20 người mắc bệnh tâm thần phân liệt. Chúng tôi cho rằng có thể phải quan sát vài trăm người trước khi chúng tôi có bức tranh toàn cảnh. Nhưng như các bạn thấy đó, 7 trong số 20 người là có sự thay đổi, tỷ lệ này là rất cao. nhưng chỉ 3 người trong mẫu kiểm chứng. Vậy ý nghĩa của mẫu kiểm chứng là gì? Biết đâu họ cũng bị bệnh mà chúng tôi không biết. Hay là họ vẫn bình thường? Tôi đoán là họ bình thường. Chúng tôi cho rằng ở bệnh tâm thần phân liệt, có những gen gây ra bệnh này, và liệu đó có là nguyên nhân gây bệnh... và chỉ có một phần nhỏ số người dân có khả năng mắc bệnh tâm thần phân liệt.
Chúng tôi chưa có bất cứ bằng chứng nào về điều đó, nhưng có một giả thiết, tôi nghĩ cách đoán biết hay nhất là nếu bạn thuận tay trái, thì bạn có xu hướng mắc bệnh tâm thần phân liệt. 30% bệnh nhân là người thuận tay trái, và bệnh tâm thần phân liệt có một kiểu di truyền rất buồn cười tức là 60% người được khảo sát là những người thuận tay trái bẩm sinh nhưng chỉ một nửa trong số đó thể hiện bệnh. Tôi không có thời gian để nói. Có một số người nghĩ mình thuận tay phải nhưng thực sự họ thuận tay phải bẩm sinh. Tốt! Tôi chỉ muốn nói là, nếu các bạn nghĩ rằng: Ồ, tôi không mang gen thuận tay trái nào cả, nên con tôi sẽ không có nguy cơ mắc bệnh tâm thần phân liệt. Phải vậy. Đúng không? (Cười)
Đối với tôi, đây là thời gian hứng thú đặc biệt. Chúng tôi phải tìm ra gen liên quan đến chứng tâm thần bi-polar; tôi đã tìm ra một mối liên hệ. Và nếu tôi có đủ tiền, chúng tôi sẽ tìm ra tất cả trong năm nay Tôi cảm ơn.
You can share this video by copying this HTML to your clipboard and pasting into your blog or web page. This video will play with subtitles.
You either have JavaScript turned off or have an old version of the Adobe Flash Player. To view this rating widget you
need to get the latest Flash player.
If your browser allows only "trusted sites" to execute Javascript, you should add the "googleapis.com" domain to your whitelist to allow our Flash detection to work properly.
Got an idea, question, or debate inspired by this talk? Start a TED Conversation.
James Watson, người đoạt giải Nobel mở đầu chương trình TED 2005 bằng một câu chuyện chia sẻ thẳng thắn và hài hước. Câu chuyện về quá trình ông và người cộng sự nghiên cứu Francis Crick tìm ra cấu trúc ADN.
Nobel laureate James Watson took part in one of the most important scientific breakthroughs of the 20th century: the discovery of the structure of DNA. More than 50 years later, he continues to investigate biology's deepest secrets. Full bio »
22:35 Posted: Apr 2007
Views 514,311 | Comments 84
16:02 Posted: Dec 2007
Views 552,410 | Comments 128
09:45 Posted: Jul 2007
Views 875,345 | Comments 196
Just follow the guidelines outlined under our Creative Commons license.
This comment will be attributed to . Not ? Sign Out.