Tôi là một người kể chuyện. Tôi sống bằng nghề này -- kể chuyện, viết tiểu thuyết. Hôm nay, tôi muốn kể cho bạn nghe vài câu chuyện về nghệ thuật kể chuyện và về một số sinh vật siêu nhiên được gọi là djinni. Nhưng trước hết, cho phép tôi được chia sẻ với bạn một thoáng câu chuyện cá nhân của mình. Tất nhiên tôi sẽ kể với sự trợ giúp của từ ngữ, và đồng thời của một dạng hình học, vòng tròn, Thông qua cuộc nói chuyện, bạn sẽ trải qua vài vòng tròn.
Tôi sinh ra ở Strasbourg, Pháp cha mẹ tôi là người Thổ Nhĩ Kỳ. Một thời gian ngắn sau đó, cha mẹ tôi ly dị, tôi chuyển đến Thổ Nhĩ Kỳ sống cùng mẹ. Từ đó trở đi, tôi được nuôi dạy với tư cách một đứa trẻ của một bà mẹ độc thân. Từ đầu những năm 1970, ở Ankara, điều đó có chút không bình thường. Khu vực chúng tôi sống có rất nhiều gia đình lớn, mà người cha là trụ cột. Còn tôi, tôi lớn lên với một bà mẹ độc thân trong môi trường phụ hệ. Trên thực tế, tôi lớn lên và quan sát hai loại phụ nữ khác nhau. Một mặt là mẹ tôi, một người phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ có học thức, không mê tín, hiện đại, Tây hóa. Còn một mặt là bà tôi, người cũng chăm sóc tôi bà mê tín hơn, ít học hơn và dĩ nhiên là ít lý trí hơn. Đấy là người phụ nữ có thể đọc bã cà phê để thấy tương lai và làm tan chảy chì thành những hình dạng kỳ dị để chống lại mắt quỷ.
Rất nhiều người tới thăm bà tôi, những người có vài nốt mụn trứng cá trên mặt hay mụn cóc trên tay. Mỗi lần, bà tôi thốt ra vài từ tiếng Ả Rập, lấy một quả táo đỏ và đâm nó bằng nhiều cái gai hoa hồng đúng với số mụn cóc bà muốn loại bỏ. Bà lần lượt nối kết những cái gai với mực tối màu. Một tuần sau đó, bệnh nhân quay trở lại để kiểm tra. Tất nhiên, tôi ý thức rằng mình không nên nói những điều này trước mặt các học giả và các nhà khoa học, nhưng sự thực là, trong số tất cả những người tới gặp bà tôi để chữa trị những chứng bệnh da liễu, tôi không thấy ai quay trở lại mà lại không vui hay không khỏi bệnh. Tôi hỏi bà tại sao bà lại làm được như vậy. Đó có phải là sức mạnh của cầu nguyện hay không? Bà đáp, "Đúng thế, cầu nguyện có công hiệu. Nhưng hãy để ý đến sức mạnh của các vòng tròn nữa."
Trong số nhiều điều khác tôi đã học được từ bà, có một bài học rất quý giá. Đó là nếu bạn muốn phá hủy thứ gì đó trong cuộc đời này, dù là một cái mụn trứng cá, một điểm khiếm khuyết hay tâm hồn con người tất cả những gì bạn cần làm là vây bọc nó bằng những bức tường dày. Nó sẽ chết khô trong đó. Tất cả chúng ta đều ở trong một vòng tròn xã hội và văn hóa nào đó. Tất cả chúng ta. Chúng ta sinh ra trong một gia đình, một quốc gia, tầng lớp nhất định. Nhưng nếu chúng ta không có kết nối với những thế giới vượt khỏi nơi chúng ta coi là dĩ nhiên ấy, chúng ta sẽ rơi vào nguy cơ bị chết khô trong vòng tròn đó. Trí tưởng tượng sẽ tan biến. trái tim yếu dần đi, và tính người sẽ tàn lụi nếu chúng ta ở quá lâu trong cái kén văn hóa của mình. Bạn bè, hàng xóm, đồng nghiệp, gia đình -- nếu tất cả mọi người trong vòng tròn này cũng giống chúng ta, điều đó có nghĩa chúng ta bị bao vây bởi những hình ảnh phản chiếu của chính mình.
Một điều nữa mà những người phụ nữ như bà tôi làm ở Thổ Nhĩ Kỳ đó là phủ vải nhung lên những tấm gương hay treo chúng lên tường và quay mặt gương vào trong. Đó là một truyền thống phương Đông cổ xưa dựa trên quan niệm rằng dành quá nhiều thời gian nhìn chằm chằm vào hình phản chiếu của bản thân là không tốt. Trớ trêu thay, [sống trong] những cộng đồng có những người giống nhau là một trong những hiểm nguy lớn nhất của thế giới toàn cầu hóa ngày nay. Điều đó xảy ra ở mọi nơi, giữa phe tự do và bảo thủ, người vô thần và người theo đạo, người giàu và người nghèo, phương Đông và phương Tây. Chúng ta có xu hướng tụ tập thành nhóm dựa trên sự tương đồng, và rồi tự tạo ra những định kiến về những nhóm người khác. Theo tôi, có một cách để xuyên qua những khu ổ chuột văn hóa đó đó là nghệ thuật kể chuyện. Tuy những câu chuyện không thể phá vỡ những rào cản, nhưng chúng có thể khoét những lỗ hổng trên bức tường tinh thần của chúng ta Qua những cái lỗ đó, chúng ta có được liếc nhìn phía bên kia, và đôi khi còn thích những gì ta nhìn thấy.
Tôi bắt đầu viết tiểu thuyết từ năm lên tám. Một ngày nọ, mẹ tôi đem về nhà một cuốn vở màu xanh ngọc, bà hỏi tôi có thích một quyển nhật kí cá nhân hay không. Giờ đây khi nghĩ lại, tôi thấy mẹ mình hơi lo lắng không biết con gái mình có bình thường không. Ở nhà, tôi luôn kể chuyện, cái đó là tốt, ngoại trừ là tôi kể chúng với những đứa bạn tưởng tượng quanh mình cái đó thì không tốt lắm. Tôi là một đứa trẻ nội tâm, tôi nói chuyện với những cây bút chì màu và xin lỗi đồ vật khi trót đâm vào chúng, vì thế mẹ nghĩ sẽ tốt hơn nếu để cho tôi viết ra những trải nghiệm và cảm xúc thường nhật. Điều bà không biết đó là tôi nghĩ cuộc sống của mình quá tẻ nhạt, và điều cuối cùng tôi muốn làm đó là viết về bản thân mình. Thay vào đó, tôi bắt đầu viết về những người khác và những điều thực sự chưa bao giờ xảy ra. Đó là điểm bắt đầu niềm đam mê cả cuộc đời tôi cho việc viết tiểu thuyết. Ngay từ đầu, truyện hư cấu đối với tôi ít giống một hình thức tự truyện hơn là một một hành trình hóa thân vào những cuộc đời khác, những khả năng khác. Mong quý vị cố kiên nhẫn: tôi sẽ vẽ một vòng tròn, sau đó quay lại điểm xuất phát.
Một điều khác nữa cũng xảy ra cùng vào thời điểm đó. Mẹ tôi trở thành một nhà ngoại giao. Từ một khu xóm trung lưu nhỏ bé, mê tín nơi bà tôi sống, tôi được vào học tại ngôi trường quốc tế sang trọng [tại Madrid], nơi tôi là người Thổ Nhĩ Kỳ duy nhất. Đây là nơi tôi chạm trán với khái niệm tôi gọi là "đại sứ nước ngoài." Lũ trẻ trong lớp đều từ tất cả các quốc gia thế nhưng sự đa dạng đó không nhất thiết dẫn đến tính dân chủ quốc tế bình đẳng trong lớp học. Thay vào đó, nó tạo nên một bầu không khí mà trong đó mỗi đứa trẻ được nhìn nhận -- không phải như một cá nhân, mà là đại diện cho một điều gì đó lớn hơn. Chúng tôi như một Liên Hợp Quốc thu nhỏ, một điều khá vui, ngoại trừ việc mỗi khi có điều gì đó tồi tệ có liên quan tới một quốc gia hay một tôn giáo nào đó. Đứa trẻ đại diện cho vùng đó bị chỉ trích, trêu ghẹo, và bắt nạt không ngớt. Tôi biết rõ, bởi trong khoảng thời gian tôi học ở trường đó, một cuộc tiếp quản quân sự xảy ra ở đất nước tôi, một tay súng mang quốc tịch nước tôi gần như giết chết Giáo Hoàng, và Thổ Nhĩ Kỳ bị không điểm trong Cuộc Thi Hát Eurovision. (Cười)
Tôi thường xuyên trốn học, và mơ mộng trở thành một thủy thủ trong suốt những ngày đó. Tôi cũng đã được nếm trải cảm giác những định kiến văn hóa nơi đây. Những đứa trẻ khác hỏi tôi về bộ phim tôi chưa từng xem, có tên "Con tàu tốc hành lúc nửa đêm"; họ muốn biết một ngày tôi hút bao nhiêu điếu thuốc lá, bởi họ tường tất cả người Thổ Nhĩ Kì đều là những tay hút thuốc hạng nặng, và họ còn hỏi tôi bắt đầu đội khăn từ khi mấy tuổi. Tôi hiểu rằng ba định kiến chính về đất nước mình đó là: chính trị, thuốc lá, và mạng che mặt. Sau Tây Ban Nha, chúng tôi tới Jordan, Đức, và quay về Ankara. Mỗi khi di chuyển như vậy, tôi thấy như chiếc va li duy nhất tôi mang theo đó là trí tưởng tượng của mình. Những câu chuyện khiến tôi có cảm giác ở trung tâm, tiếp nối, và gắn kết, ba điều mà tôi thiếu.
Vào giữa tuổi hai mươi, tôi chuyển tới Istanbul, thành phố ưa thích của tôi. Tôi sống trong một khu xóm sôi động, đa dạng, nơi tôi đã viết vài quyển tiểu thuyết. Tôi ở Istanbul khi có trận động đất kinh hoàng vào năm 1999. Khi chạy ra khỏi tòa nhà vào lúc ba giờ sáng, có một điều đã dừng chân tôi lại trên đường. Đó là một người bán hàng tạp hóa địa phương -- một người đàn ông đứng tuổi, gắt gỏng, không bán rượu, và không nói chuyện với những người lân cận. Ông ngồi cạnh một người phu nữ mặc quần áo đàn ông đội bộ tóc giả dài màu đen mascara chảy dọc đến cằm cô ấy. Tôi thấy ông ta mở bao thuốc lá tay run rẩy mời cô ấy một điếu, và đó là ấn tượng của tôi trong cái đêm xảy ra động đất cho đến ngày nay -- một người bán tạp hóa bảo thủ và một người chuyển giới đang khóc họ cùng hút thuốc trên vỉa hè. Ở bề mặt của cái chết và sự phá hủy, những khác biệt tầm thường của chúng ta tan biến, chúng ta trở thành một ngay cả là chỉ trong vòng vài giờ đồng hồ. Nhưng tôi cũng luôn tin rằng những câu chuyện như vậy cũng có ảnh hưởng tương tự tới chúng ta. Tôi không định nói rằng truyện hư cấu có tầm ảnh hưởng như trận động đất nhưng khi chúng ta đọc một cuốn tiểu thuyết hay, chúng ta dường như bỏ lại khu căn hộ nhỏ và ấm áp của mình đi ra ngoài trời đêm một mình và bắt đầu biết những người trước đây chưa bao giờ gặp và có lẽ cả những người ta từng có định kiến trước đó.
Không lâu sau đó, tôi theo học tại một trường nữ sinh ở Boson, và rồi Michigan. Trải nghiệm này đối với tôi không hẳn là một thay đổi về địa lý mà là thay đổi về ngôn ngữ. Tôi bắt đầu viết truyện hư cấu bằng tiếng Anh. Tôi không phải là dân di cư, tị nạn, hay người đi tha hương -- họ hỏi tại sao tôi lại làm như vậy -- nhưng sự giao lưu giữa những ngôn ngữ khiến tôi có cơ hội được tạo dựng lại bản thân mình. Tôi thích viết bằng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, nó rất nên thơ và tràn đầy xúc cảm, và tôi cũng thích viết bằng tiếng Anh, thứ ngôn ngữ khoa học và phổ biến. Tôi kết nối mỗi ngôn ngữ lại theo một cách khác nhau. Đối với tôi, và như hàng triệu người khác trên thế giới ngày nay, tiếng Anh là ngôn ngữ bắt buộc. Khi bạn là người đến muộn đối với một ngôn ngữ, những gì xảy ra là bạn sống tại đây với một sự thất vọng không bao giờ dứt. Là những người đến sau, chúng tôi luôn muốn nói nhiều hơn, bạn biết đấy, pha trò nhiều hơn, nói nhiều điều tốt hơn, nhưng cuối cùng lại nói ít hơn thế bởi có khoảng cách giữa trí óc và lưỡi. Khoảng cách đó thật là đáng sợ. Nhưng nếu chúng tôi cố gắng không hoảng sợ, thì nó lại kích thích. Đó là điều tôi khám phá được khi ở Boston -- sự thất vọng đó rất kích thích.
Ở điểm này, bà tôi, người đã dõi theo cuộc đời tôi với sự những lo lắng tăng dần, bắt đầu thêm vào những lời cầu nguyện hàng ngày của bà rằng tôi phải mau chóng kết hôn để có thể sống ổn định tại một nơi. Và bởi Chúa thương bà, tôi đã kết hôn. (Cười) Nhưng thay vì việc ổn định, tôi lại tới Arizona. Và bởi chồng tôi sống tại Istanbul, tôi bắt đầu đi đi lại lại giữa Arizona và Istanbul -- hai địa điểm trên bề mặt Trái Đất không thể khác biệt hơn. Tôi đoán một phần bản thân mình đã luôn là một người du mục, cả về thể chất và tinh thần. Những câu chuyện đồng hành cùng với tôi, giữ tôi và kỉ niệm gắn kết với nhau như một chất keo cho sự tồn tại.
Nhưng dù tôi yêu các câu chuyện, gần đây, tôi cũng đã bắt đầu nghĩ rằng chúng đánh mất sự kì diệu và khi một câu chuyện được nhìn như hơn một câu chuyện Đó là chủ đề mà tôi muốn cùng quý vị nghĩ đến. Khi cuốn tiểu thuyết đầu tiên của tôi phát hành tại Mỹ, tôi nghe được một nhận xét thú vị từ một nhà phê bình văn học. "Tôi thích cuốn sách của cô," ông nói, "nhưng tôi ước cô có thể viết nó khác đi." (Tiếng cười) Tôi hỏi ông ấy rằng câu nói ấy có ý gì. Ông nói, "Hãy nhìn này. Trong này có quá nhiều nhân vật Tây Ban Nha, Mỹ, người gốc Tây Ban Nha, nhưng lại chỉ có một nhân vật người Thổ Nhĩ Kì, và đó lại là một người đàn ông." Cuốn tiểu thuyết diễn ra tại khuôn viên một trường đại học ở Boston, nên đối với tôi, có nhiều nhân vật nước ngoài hơn người Thổ Nhĩ Kì là điều bình thường, nhưng tôi hiểu nhà phê bình đang tìm kiếm điều gì. Tôi cũng hiểu rằng mình sẽ tiếp tục khiến ông thất vọng. Ông muốn thấy hóa thân của bản sắc của tôi Ông tìm kiếm một người phụ nữ Thổ Nhĩ Kì ở cuốn sách này bởi tôi là một người như thế
Chúng ta hay nói về cách những câu chuyện thay đổi thế giới, nhưng chúng tôi cũng nên nhìn xem thế giới của rào cản bản sắc ảnh hướng đến việc lưu truyền đọc, và cảm nhận các câu chuyện. Rất nhiều tác giả cảm thấy đây là áp lực, nhưng những tác giả không phải là người phương Tây cảm nhận được điều này rõ hơn. Nếu bạn là một nữ nhà văn đến từ thế giới Hồi giáo, giống như tôi, người ta sẽ hy vọng bạn sẽ viết về những phụ nữ Hồi giáo và, hơn thế nữa, những câu chuyện bất hạnh về những người phụ nữ Hồi giáo bất hạnh. Người ta sẽ mong bạn viết về những câu chuyện nhiều thông tin, sân sắc, và đặc trưng, để lại những thử nghiệm và tiên phong cho đồng nghiệp phương Tây của mình. Những gì tôi trải nghiệm hồi còn là một đứa trẻ trong trường học đó ở Madrid đang diễn ra trong thế giới văn học ngày nay. Nhà văn không được nhìn nhận như những cá nhân sáng tạo, mà họ như những đại sứ cho nền văn hóa của chính họ: một số tác giả từ Trung Quốc, một số từ Thổ Nhĩ Kì, một số khấc từ Nigeria. Chúng ta đều có những điểm rất khác biệt, có khi còn kỳ dị.
Nhà văn và người đi làm James Baldwin tham gia một buổi phỏng vấn vào năm 1984 trong đó ông liên tục được hỏi về việc ông bị đồng tính. Khi phóng viên cố phân loại ông như một nhà văn bị đồng tính, Baldwin ngừng lại và nói, "Anh không thấy ư? Chẳng có thứ gì tôi có mà những người khác lại không có, và không thứ gì mọi người khác có mà tôi không có." Khi rào cản bản sắc cố gắng phân biệt chúng ta, đó là lúc sự tự do tưởng tượng của chúng ta gặp nguy hiểm. Có một thể loại văn học không rõ ràng gọi là văn học đa văn hóa trong đó tất cả các tác giả không phải từ phương Tây bị gộp lại với nhau. Tôi không thể quên bài đọc đa văn hóa đầu tiên của mình, ở Harvard Square mười năm trước. Chúng tôi là ba nhà văn, một người tới từ Philipppine, một người Thổ Nhĩ Kì và một người Indonesia -- bạn biết đấy, nghe như chuyện đùa. (Tiếng cười) Và lí do tại sao chúng tôi lại tụ hợp với nhau không phải bởi chúng tôi có cùng một phong cách viết hay một gu văn học giống nhau mà chỉ bởi vì hộ chiếu của chúng tôi. Người ta nghĩ những nhà văn đa văn hóa sẽ kể những câu chuyện có thật, chứ không phải là tưởng tượng. Một chức năng được thêm vào truyện hư cấu Bằng cách này, không chỉ riêng những nhà văn, mà cả nhân vật hư cấu của họ cũng trở thành những đại diện cho một thứ gì đó lớn hơn.
Nhưng tôi phải nói thêm rằng xu hướng nhìn nhận một câu chuyện ngoài tầm một câu chuyện này không chỉ diễn ra ở phương Tây. Nó bắt nguồn từ mọi nơi. Lần đầu tiên tôi trải nghiệm điều này là khi tôi đi hầu tòa năm 2005 bởi những lời mà nhân vật hư cấu của tôi nói trong một cuốn tiểu thuyết. Tôi đã định viết một cuốn tiểu thuyết có tính xây dựng, nhiều tầng nghĩa về một người Armenia và một gia đình Thổ Nhĩ Kì qua con mắt của phụ nữ. Nhưng câu chuyện nhỏ của tôi trở thành vấn đề lớn khi tôi bị truy tố. Một số người chỉ trích tôi, một số khác lại ủng hộ tôi khi viết về xung đột giữa Thổ Nhĩ Kì và Armenia Nhưng có lúc tôi chỉ muốn nhắc nhở cả hai phía rằng đó chỉ là một câu chuyện hư cấu. Chỉ là một câu chuyện. Và khi tôi nói, "đó chỉ là một câu chuyện," Tôi không phải muốn hạ thấp tác phẩm của mình. Tôi muốn yêu và tôn vinh tiểu thuyết hư cấu bởi chính bản thân nó, chứ không phải như một công cụ cho một mục đích nào đó.
Nhà văn bị gắn với chính kiến của chính họ và đã có những cuốn tiểu thuyết chính trị khá hay, nhưng ngôn ngữ hư cấu không phải là ngôn ngữ của chính kiến hàng ngày. Chekhov từng nói, "Giải pháp cho một vấn đề và cách đặt câu hỏi một cách đúng đắn là hai điều hoàn toàn khác nhau. Chỉ có điều sau là trách nghiệm của một nghệ sỹ." Rào cản bản sắc chia cắt chung ta. Còn truyện hư cấu lại kết nối chúng ta lại. Rào cản bản sắc thích tạo ra khái quát hóa Còn truyện hư cấu tạo ra những khác biệt tinh tế Một thứ tạo ra các ranh giới. Thứ kia không nhận ra một rào cản nào. Rào cản bản sắc được dựng lên bởi những viên gạch cứng. Ngược lại, truyện hư cấu là dòng nước chảy.
Dưới thời vua Ottoman, đã có những người kể chuyện đi rong được gọi là "meddah." Họ tới những quán cà phê, nơi họ kể chuyện trước đám đông, thường là ngẫu hứng. Với mỗi người trong câu chuyện, meddah sẽ thay đổi giọng, dựng nên nhân vật đó. Tất cả mọi người đều có thể tới và nghe kể chuyện -- những người bình thường, và ngay cả hoàng đế Thổ Nhĩ Kì, những người Đạo hồi và người không theo đạo Hồi. Những câu chuyện vượt khỏi mọi ranh giới, như "Những chuyện kể của Nasreddin Hodja," một câu chuyện khá phổ biến ở khu vực Trung Đông, Bắc Phi, khu vực Balkan, và Châu Á. Ngày nay, những câu chuyện tiếp tục phá vỡ những rào cản. Khi những nhà chính trị người Palestin và Israeli nói chuyện, họ thường không lắng nghe lẫn nhau, nhưng một độc giả người Palestin sẽ vẫn đọc tiểu thuyết được viết bởi một tác giả Do Thái, và ngược lại, kết nối và đồng cảm với người kể chuyện. Văn học phải làm được điều đó. Nếu nó không dẫn chúng ta đến điều đó, thì đó không phải là văn học thực sự.
Sách cứu giúp cái đứa trẻ nội tâm, nhút nhát trong tôi -- tôi đã từng như vậy.. Nhưng tôi cũng ý thức được đến hiểm nguy của việc tôn thờ chúng. Khi nhà thơ và nhà thần bí học, Rumi, gặp bạn đồng hành tinh thần của mình, Shams của Tabriz, một trong những điều đầu tiên người sau làm đó là xé tan sách của Rumi bỏ xuống nước và nhìn chữ hòa vào nước. Người Sufis từng nói, "Kiến thức không khiến bạn đi xa hơn bản thân mình thì còn tệ hơn nhiều sự bỏ mặc." Vấn đề với những ổ chuột văn hóa hiện nay không phải là sự thiếu kiến thức -- chúng ta biết rõ về nhau, hay chúng ta nghĩ là như vậy -- nhưng kiến thức mà không dẫn chúng ta ra khỏi bản thân mình: nó khiến chúng ta trở nên trịch thượng, xa cách và tách biệt. Có một phép ẩn dụ tôi tâm đắc: sống là như một compa vẽ. Như bạn biết đấy, một chân com-pa đứng yên một chỗ. Trong khi đó, chân còn lại vẽ một vòng tròn lớn, luôn chuyển động. Truyện hư cấu của tôi cũng như vậy. Một phần của tôi cố định tại Istanbul, với gốc Thổ Nhĩ Kỳ rõ rệt, phần còn lại đi vòng quanh thế giới, kết nối các nền văn hóa khác nhau. Bằng nghĩa này, tôi muốn nghĩ về câu chuyện hư cấu của mình như một câu chuyện địa phương và cả câu chuyện thế giới, từ đây và từ khắp mọi nơi.
Những người trong số quý vị mà đã từng đến Istanbul có lẽ đã từng thấy Cung điện Topkapi, nơi ở của vua Ottoman, trong khoảng hơn 400 năm. Trong cung điện đó, ngay ngoài khu ở của các phi tần được sủng ái, có một nơi được gọi là Nơi tụ tập của Djinn. Nó nằm giữa các toà nhà. Tôi bị thu hút bởi ý tưởng này. Thường thì chúng ta không tin vào những khu vực mà lọt thỏm giữa những thứ khác như thế này. Chúng ta coi chúng như nơi của những sinh vật siêu nhiên như djinn, những người được làm từ lửa không khói và là biểu tượng cho sự khó nắm bắt. Nhưng ý tôi là có lẽ cái không gian vô hình đó là những gì mà nhà văn và nghệ sĩ cần nhất. Khi tôi viết truyện hư cấu Tôi trân trọng sự khó nắm bắt và khả năng thay đổi. Tôi thấy thích khi không biết điều gì sẽ xảy ra ở 10 trang tiếp theo. Tôi thấy vui khi các nhân vật của mình làm tôi ngạc nhiên. Tôi có khi sẽ viết về một người phụ nữ Hồi giáo trong một cuốn tiểu thuyết, và có thể sẽ là một câu chuyện vui, và trong cuốn sách sắp tới, tôi có thể viết viết về chàng đồng tính, đẹp trai từ Na Uy. Miễn là nó bắt nguồn từ trái tim của chúng ta, chúng ta có thể viết về bất cứ điều gì và tất cả mọi thứ.
Audre Lorde đã từng nói, "Nhưng người cha da trắng đã dạy chúng ta nói câu, 'Tôi tư duy, tôi tồn tại.' " Cô ấy gợi ý, "Tôi cảm nhận, tôi tự do." Tôi nghĩ đó là một sự thay đổi tư duy tuyệt vời. Thế nhưng, tại sao trong các khóa học viết sáng tạo ngày nay, điều đầu tiên chúng ta dạy cho học sinh của mình là viết những gì bạn biết"? Có lẽ đó không phải là con đường đúng để xuất phát. Văn học tưởng tương không nhất thiết phải là viết về chúng ta hay những gì chúng ta biết hay bản sắc của chúng ta. Chúng ta nên dạy giới trẻ và cả bản thân mình mở rộng trái tim và viết về những điều chúng ta có thể cảm nhận được. Chúng ta nên vứt bỏ ổ chuột văn hóa của mình và ghé thăm khu vực cạnh đó, cạnh đó nữa.
Cuối cùng, những câu chuyện chuyển động như những vòng xoáy, vẽ nên những vòng tròn bao bọc lẫn nhau. Chúng kết nối lòng nhân đạo, vượt khỏi rào cản bản sắc, và đó là một tin tốt. Tôi muốn kết thúc bằng một bài thơ Sufi cổ: "Nào, hãy đề chúng ta là bạn bè một lần; hãy để chúng ta làm cho cuộc sống trở nên dễ dàng; hãy để chúng ta trở thành người yêu và người được yêu; sẽ không ai bị bỏ lại trên Trái Đất nữa."
You can share this video by copying this HTML to your clipboard and pasting into your blog or web page. This video will play with subtitles.
You either have JavaScript turned off or have an old version of the Adobe Flash Player. To view this rating widget you
need to get the latest Flash player.
If your browser allows only "trusted sites" to execute Javascript, you should add the "googleapis.com" domain to your whitelist to allow our Flash detection to work properly.
Got an idea, question, or debate inspired by this talk? Start a TED Conversation.
Nghe chuyện giúp ta mở rộng trí tưởng tượng; còn kể chuyện để ta vượt qua rào cản văn hóa, đón nhận những trải nghiệm khác biệt, cảm nhận những điều người khác cảm nhận. Dựa trên ý tưởng giản đơn này, Elif Shafak lý luận rằng sự hư câu có thể vượt qua rào cản của bản sắc.
Elif Shafak explicitly defies definition -- her writing blends East and West, feminism and tradition, the local and the global, Sufism and rationalism, creating one of today's most unique voices in literature. Full bio »
Translated into Vietnamese by Trang Tran
Reviewed by Linh Dao
Comments? Please email the translators above.
18:49 Posted: Oct 2009
Views 4,167,401 | Comments 761
17:36 Posted: Aug 2007
Views 307,338 | Comments 67
Just follow the guidelines outlined under our Creative Commons license.
This comment will be attributed to . Not ? Sign Out.